Tuổi thiếu niên thường được coi là lứa tuổi chuyển tiếp từ trẻ em sang người lớn, chứa đựng nhiều diễn biến mang tính khủng hoảng.
Giai đoạn tuổi thiếu niên thường được xem như là giai đoạn “nổi loạn và bất trị”, là giai đoạn xáo trộn mạnh mẽ trong tình cảm và hành vi. Tuy nhiên, trên thực tế phần lớn các em trải qua giai đoạn này một cách tốt đẹp, thích ứng tốt và không có những mâu thuẫn nội tâm gay gắt, không có quá nhiều vấn đề với cha mẹ và bạn bè. Một nghiên cứu ở Mỹ cho thấy chỉ có khoảng 10 đến 20% thiếu niên có những rối loạn về tâm lý, và tỷ lệ này cũng giống như ở người lớn (Powers et al, 1989).
Chúng ta chỉ có thể xác định mốc của giai đoạn lứa tuổi này một cách tương đối. Thông thường trẻ bắt đầu có những biểu hiện hành vi ứng xử như thiếu niên sớm hơn nhiều so với khi bắt đầu xuất hiện các dấu hiệu về sinh lý.
Trong các thời đại lịch sử trước đây, giai đoạn lứa tuổi thiếu niên là tương đối ngắn. Ở loài thú đến vượn người, giai đoạn này hoàn toàn không có. Nó cũng hầu như không có ở các bầy người nguyên thủy, và chỉ chiếm khoảng thời gian rất ngắn ở các xã hội bộ tộc vì sau khi chín muồi về mặt tính dục là con người đã bước ngay vào cuộc sống của người trưởng thành, sinh con đẻ cái.
LX. Vưgotxki đã phân biệt 3 điểm chín muồi của con người xã hội: Chín muồi về mặt cơ thể, chín muồi về giới tính và chín muồi về mặt tâm lý xã hội. Ở loài vượn người, chín muồi về mặt cơ thể và tính dục là trùng nhau, vào khoảng 5 tuổi. Ở con người, trước kia, trong lịch sử phát triển xã hội, có những thời gian các mốc chín muồi tính dục được coi là mốc trưởng thành về mặt xã hội, và được chào mừng bằng các nghi lễ riêng, trong khi sự chín muồi cơ thể thường diễn ra sau đó vài năm. Trong xã hội hiện đại, những mốc chín muồi về 3 phương diện trên có xu hướng tách rời nhau. Chúng ta có thể thấy ở trẻ em: đầu tiên là sự chín muồi về mặt giới tính, sau đó là sự chín muồi về mặt cơ thể, và cuối cùng mới là sự chín muồi về mặt tâm lý xã hội. Chính sự tách rời các mốc chín muồi này là cơ sở để hình thành giai đoạn lứa tuổi vị thành niên.
Cuối thế kỷ XIX, lần đầu tiên các nhà tâm lý học xem xét lứa tuổi chuyển tiếp này và nghiên cứu những đặc trưng của nó. Sang thế kỷ XX, giai đoạn tuổi thiếu niên đã chiếm một vị trí đặc biệt, được nhiều tác giả quan tâm.
Trong xã hội hiện đại, ở các nước phát triển, cha mẹ thường có xu hướng quan tâm, chăm sóc con cái đến khi đứa con lập gia đình riêng, giai đoạn tuổi thiếu niên vì thế có xu hướng kéo dài ra, và chiếm giai đoạn lứa tuổi khá dài, còn tác giả còn cho rằng nó kéo dài từ 11 đến 20 tuổi.
Mặc dù vậy, ở những nước kém phát triển hay ở những vùng quê xa, nơi trẻ em phải tự lập sớm, thì giai đoạn lứa tuổi này lại rất ngắn.
Vưgotxki và nhiều tác giả khác đã cho rằng những đặc điểm diễn biến và độ dài của tuổi thiếu niên rất khác nhau ở các xã hội có trình độ phát triển khác nhau. Sự hình thành giai đoạn lứa tuổi này mang đậm nét văn hóa xã hội lịch sử.
Ở nước ta, giai đoạn lứa tuổi này cũng có những đặc điểm và độ dài khác nhau giữa nông thôn và thành thị. Trong phạm vi tài liệu này, giới hạn tuổi thiếu niên là từ 12 đến 17 tuổi.
Tuổi thiếu niên có vị trí và ý nghĩa đặc biệt trong quá trình phát triển của cuộc đời mỗi con người. Đây là giai đoạn có nhiều thay đổi về sinh lý, về nhận thức, về cấu trúc nhân cách và vị thế xã hội. Thiếu niên phải đối mặt với những vấn đề khó khăn và mâu thuẫn cần giải quyết. Việc vượt qua giai đoạn lứa tuổi này một cách thành công sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các giai đoạn phát triển tiếp theo.
Dậy thì
Đặc trưng của tuổi thiếu niên là sự phát triển mạnh mẽ của cơ thể, sự chín muồi về giới tính và sự cân bằng bị phá vỡ do ảnh hưởng của dậy thì. Dậy thì ở nữ được đánh dấu bởi sự xuất hiện kinh nguyệt lần đầu tiên. Dậy thì ở nam được đánh dấu bởi lần xuất tinh đầu tiên có chứa tế bào sinh sản.
Sự chín muồi tính dục ở nam. Dấu hiệu đầu tiên báo hiệu tuổi dậy thì ở nam chính là việc tinh hoàn và bìu trở nên phát triển, khoảng một năm sau đến lượt dương vật phát triển. Thời kỳ này lông mu cũng bắt đầu xuất hiện, tim và phổi cũng to ra. Nhờ có testosterone, hồng cầu ở nam phát triển nhiều hơn ở nữ. Quá trình sản sinh hồng cầu dữ dội chính là một trong những yếu tố tạo nên sự vượt trội về thể lực, khả năng điền kinh ở nam thiếu niên. Sự xuất tinh lần đầu có thể xuất hiện vào khoảng từ 11 đến 15,16 tuổi.
Vỡ giọng cũng là một đặc điểm của các thiếu niên nam ở giai đoạn này. Chất giọng thật sẽ được hình thành dần trong các giai đoạn phát triển sau đó.
Sự chín muồi tính dục ở nữ. Thường những núm vú sẽ nhô lên là dấu hiệu đầu tiên cho biết bé gái bước vào tuổi dậy thì. Tử cung và âm đạo phát triển kéo theo việc tăng kích cỡ của môi âm đạo, âm vật. Kỳ kinh nguyệt đầu tiên thường xuất hiện khi cơ thể đã có chiều cao tương đối và có lượng mỡ nhất định, và có thể xuất hiện lần đầu vào khoảng từ 10 tuổi đến 15,16 tuổi. Kinh nguyệt thường kéo theo cơn đau âm ỉ ở bụng và ngực căng cứng đối với trẻ nữ.
Sự lo lắng về hình dáng
Các em lứa tuổi này cảm nhận rất rõ sự biến đổi của cơ thể và rất nhạy cảm với vẻ bề ngoài của mình. Chúng thường so sánh bản thân mình với những người khác để rồi xem xét lại chính mình. Cả hai giới đều cảm thấy lo lắng khi thấy mình không giống các thần tượng thường gặp trên phim ảnh. Những ý nghĩ như: “mình béo quá”, “mũi to quá”, “chân to quá”, “lùn quá”,...có thể làm các em nghĩ là mình rất xấu. Cả hai giới đều rất quan tâm đến làn da của mình, những lo lắng của các em liên quan nhiều đến mụn và trứng cá trên mặt.
Sự thay đổi chiều cao, cân nặng đi kèm với sự thay đổi tỉ lệ cơ thể. Đầu, bàn tay, bàn chân thường đạt tới kích thước của người lớn trước, sau đó là cánh tay và cẳng chân dài ra, sau đó là thân mình. Bộ xương phát triển mạnh và nhanh hơn so với sự phát triển cơ bắp. Tất cả những điều đó dẫn đến sự mất cân đối cơ thể. Trẻ thường cảm thấy mình vụng về, lóng ngóng. Nhìn chung trẻ em thường cảm thấy xấu hổ về những thay đổi trên cơ thể của mình.
Cùng với sự phát triển nhanh về cơ thể là những biến đổi trong hoạt động của hệ hô hấp, tuần hoàn. tin, phổi làm việc khó khăn hơn khiến việc đưa máu lên não không đều ảnh hưởng đến tâm trạng chung của trẻ. Nhìn chung phông tình cảm, xúc cảm của thiếu niên trở nên không ổn định. Thêm vào đó, các hooc-môn tính dục sản sinh nhiều làm cho trẻ dậy thì lúc nào cũng trong trạng thái bứt rứt, bồn chồn.
Trẻ rất quan tâm tới vẻ bên ngoài của mình. Sự mất cân đối giữa các phần của cơ thể, sự lóng ngóng, vụng về, khuôn mặt không thanh tú, da nổi trứng cá, béo hay gầy quá, cao hay thấp quá, tất cả đều có thể dẫn tới cảm giác không hoàn thiện của bản thân. Nhiều em trở nên khép kín, thậm chí âu sầu.
Việc quan tâm thái quá đến vẻ bên ngoài của mình làm thiếu niên thường nghĩ rằng mọi người xung quanh cũng luôn để ý đến ngoại hình của chúng. Hiện tượng “khán giả tưởng tượng” này thể hiện ở cảm giác thường trực của thiếu niên là: mọi người đang đánh giá xem mình trông như thế nào. Điều này làm tăng tính dễ bị tổn thương của trẻ.
Những phản ứng cảm xúc nặng nề về vẻ bề ngoài của trẻ vị thành niên có thể được làm dịu đi bằng những mối quan hệ thân thiện, ấm áp với những người thân thiết, đặc biệt là những người lớn tế nhị và luôn thông hiểu trẻ. Tuy nhiên, không phải bậc cha mẹ nào cũng có khả năng tạo dựng mối quan hệ thân thiện với con tuổi vị thành niên.
tài liệu tham khảo:
Giáo trình tâm lý học phát triển

0 Nhận xét